28/8/10

Khuất tất tại Cục thi hành án dân sự TP. HCM?

Bà Nguyễn Thị Kim Thúy trước căn nhà là phần tài sản chưa được thực hiện thi hành án từ năm 1996 đến nay
Thứ ba, 19/01/2010 07:28

Một công văn khó hiểu

(CATP) Đã từng ra quyết định bác đơn khiếu nại của ông Phạm Mạnh Hà (SN 1958, ngụ Q10) nhưng đến ngày Chi cục Thi hành án dân sự quận 3 tổ chức cưỡng chế thi hành án (buộc ông Hà phải chia lại cho bà Nguyễn Thị Kim Thủy, SN 1965, ngụ Q3, 1/2 mảnh đất có diện tích 450m2 tại H. Bình Chánh) thì Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp lại có công văn hướng dẫn THADS TPHCM kiểm tra, kịp thời giải quyết những khiếu nại của ông Hà trước khi tổ chức cưỡng chế THA, báo cáo kết quả, đồng thời có nhiều ý kiến chỉ đạo khiến Chi cục Thi hành án dân sự quận 3 và dư luận hết sức bất bình. 

Mới đây, ông Nguyễn Thanh Thủy - Phó tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp ký văn bản 351/BTP - THA ngày 9-3-2009 gởi Tòa án nhân dân tối cao khiếu nại thông báo bổ sung và bản án của TAND TPHCM, làm thay phần việc đáng lẽ ra là của ông Hà - đương sự của vụ án?

TỪ CHỈ ĐẠO… TRÁI KHOÁY

Theo báo cáo định kỳ về các vụ thi hành án tồn đọng kéo dài của Chi cục Thi hành án dân sự quận 3 thì sau khi được TAND TPHCM giải quyết ly hôn bằng bản án số 89/LH-PT ngày 23-8-1996, cả ông Phạm Mạnh Hà và bà Nguyễn Thị Kim Thủy đã cùng thống nhất bán căn nhà số 140 Võ Văn Tần, P6Q3 với giá 445 lượng vàng SJC để tự phân chia tài sản ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tại hợp đồng mua bán nhà đất được ký kết vào ngày 8-12-1996, ông Hà và bà Thủy đều thống nhất ký tên, nhận tiền. Thế nhưng, vào năm 2006, khi bà Thủy làm đơn yêu cầu khôi phục thời hiệu bản án, đòi chồng cũ phải thực hiện việc chia 1/2 mảnh đất tại Bình Chánh thì ông Hà đã liên tục khiếu nại lên Tổng cục Thi hành án dân sự, đòi bà Thủy phải chia cho mình 150 lượng vàng như bản án của tòa đã tuyên với lý do: “...mặc dù tôi có ký giấy bán căn nhà 140 Võ Văn Tần nhưng số tiền bán nhà và tài sản chung ghi trong bản án chưa chia cho tôi...”.

Trong khi đó, theo bà Thủy thì từ lúc nhận 1/2 số tiền bán nhà, ông Hà đã phớt lờ trách nhiệm của mình trong việc chia lại cho bà 1/2 mảnh đất có diện tích (10x45 mét) tại ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh. Đối với phần tài sản này, vào tháng 8-2001 Chi cục THADS Q3 đã có văn bản ủy thác cho THADS huyện Bình Chánh thực hiện việc thi hành án đối với ông Phạm Mạnh Hà. Song ở thời điểm trên, ông Hà có đơn khiếu nại quyết định thi hành án số 479/THA ngày 12-9-2001 của Chi cục THADS huyện Bình Chánh với lý do đơn vị này đã ra quyết định thi hành án khi bản án trên đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án nên Chi cục THADS huyện Bình Chánh đã phải ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án trên, đưa bà Thủy vào thế không thể đòi người chồng cũ thực hiện chia phần đất mà bà đã được phân chia trong bản án.

Vào tháng 2-2007, Chi cục THADS Q3 căn cứ trên đơn xin khôi phục thời hiệu thi hành án của bà Thủy và công văn số 250/2007/VP-TA ngày 19-1-2007 của TAND TPHCM xác nhận đã cấp sao lục bản án lần đầu cho bà Thủy vào ngày 14-5-2001 để ra quyết định khôi phục thời hiệu và quyết định thi hành án đối với ông Phạm Mạnh Hà, trong đó buộc ông Hà phải thi hành việc chia cho bà Thủy một diện tích đất là 5x45 mét. Song, không những ông Hà không thi hành quyết định thi hành án của Chi cục THADS Q3 mà còn gởi đơn thư tới nhiều cơ quan chức năng tại TPHCM và trung ương để khiếu nại việc Chi cục THADS Q3 ra quyết định khôi phục thời hiệu trên là trái với quy định của pháp luật. Đồng thời nêu lên việc ông chưa được chia 1/2 số vàng bán căn nhà 140 Võ Văn Tần P6Q3 để yêu cầu Chi cục THADS Q3 phải ra quyết định khôi phục thời hiệu, buộc bà Thủy phải giao 150 lượng vàng...

Mặt khác, ông Hà giấu nhẹm thông tin liên quan đến mảnh đất trên và cho rằng tòa án đã thiếu căn cứ khi tuyên buộc ông phải chia mảnh đất vì nó không rõ tứ cận, không xác định rõ ở vị trí nào... Ngay cả khi TAND TPHCM có thông báo bổ sung bản án số 1250/2008/TB-TA nêu rõ mảnh đất thuộc số 967 đường Chánh Hưng, ấp 3 (nay thuộc ấp 4) xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh thì ông Hà cũng không chịu thừa nhận. Trong đơn khiếu nại ông đã viết: “Khi tòa xét xử năm 1996 thì trên thực tế chưa có đường Chánh Hưng, do vậy thông báo đính chính của tòa là không đúng thực tế...”.

Tuy nhiên, TAND TPHCM và THADS Q3 cũng đã có đủ cơ sở để xác minh được mảnh đất trên nay thuộc số 967 đường Chánh Hưng. Trong số những tài liệu chứng minh, đáng chú ý là tờ đơn cớ mất giấy tờ do chính ông Hà viết vào ngày 5-8-1995 có xác nhận của CAP6Q3 đã có đoạn viết: “ ...1 bộ giấy tờ mua bán đất số 967 đường Chánh Hưng, ấp 3 xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh”. Trước đó, trong văn tự mua bán nhà ký với chủ đất cũ vào năm 1992 cũng thể hiện: “...bằng lòng bán đứt căn nhà số 967 đường Chánh Hưng...”.

Điều đặc biệt mà ông Hà vin vào để không chịu thi hành án là cho rằng ông đã bán mảnh đất trên cho ông Nguyễn Thành Bon vào năm 1995 - thời điểm trước khi vợ chồng ông ly hôn. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, ông Hà vẫn là chủ nhân thực sự của mảnh đất trên. Tháng 6-2000 chính tay ông Hà đã ký giấy nhận 190.208.000 đồng từ Ban QLDA đầu tư XDCT GTCC chi trả cho việc đền bù một phần diện tích của căn nhà số 967 Chánh Hưng trong việc giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu và đường Nguyễn Tri Phương nối dài.

Với những chứng cứ trên, ngày 28-10-2008, tại cuộc họp Ban chỉ đạo thi hành án, Chủ tịch UBND Q3, Trưởng ban chỉ đạo Thi hành án Q3 - ông Trịnh Văn Thình - đã kết luận: “Xây dựng kế hoạch cưỡng chế đối với ông Phạm Mạnh Hà để thi hành khoản giao trả đất cho bà Nguyễn Thị Kim Thủy như án đã tuyên...”.

Song, khi Chi cục THADS Q3 lên kế hoạch, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế đối với ông Hà thì bỗng nhiên ngày 26-12-2008 THADS TPHCM nhận được công văn số 1803/BTP-THA, hướng dẫn THADS TPHCM kiểm tra, kịp thời giải quyết những khiếu nại của ông Hà trước khi tổ chức cưỡng chế THA, báo cáo kết quả (mặc dù trước đó cũng chính Cục THADS đã có quyết định số 516/QĐGQKN-THA với nội dung bác đơn khiếu nại của ông Hà). Việc ra văn bản “tiền hậu bất nhất” như trên đã khiến việc cưỡng chế THA đối với ông Hà bị đình lại cho tới nay, gây bức xúc trong dư luận. Gần đây trong một cuộc họp hồi tháng 3-2009 giữa lãnh đạo Tổng cục THADS, Cục THADS TPHCM và Chi cục THADS các quận huyện... Tổng cục THADS lại có yêu cầu “trái khoáy” khi chỉ đạo: “...THADS Q3 cần có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc TAND TPHCM có văn bản số 1250/2008/TB-TA ngày 18-11-2008 thông báo bổ sung bản án có hiệu lực từ năm 1996 là có phù hợp hay không...” (!?).

ĐẾN KHIẾU NẠI THAY… ĐƯƠNG SỰ

Đáng ngạc nhiên hơn nữa, vào ngày 9-3-2009, ông Nguyễn Thanh Thủy - Phó tổng cục trưởng Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp lại có văn bản gởi TAND tối cao để... “khiếu nại về thông báo bổ sung và bản án của TAND TPHCM”. Dư luận đang thắc mắc việc ban hành một công văn như trên có đúng luật hay không? Bởi lẽ, theo Điều 16, Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ có quyền yêu cầu tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định đó để thi hành; kiến nghị người có thẩm quyền xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực nếu có căn cứ cho thấy có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện có tình tiết mới. Như vậy, lý do nào đã khiến ông Thủy gởi một văn bản cho TAND tối cao để khiếu nại một bản án do TAND TPHCM ban hành?

Trước những yêu cầu không có cơ sở của cấp trên, Chi cục THADS Q3 đã có văn bản số 161/THA ngày 11-3-2009 gởi Cục THADS TPHCM, Viện KSND Q3 trả lời thẳng thắn rằng: “...bản án ly hôn trên là do TAND TPHCM tuyên xử và cũng chính tòa án cấp này đã giải thích bằng văn bản số 1033/TATP-TLĐ... nên việc Cục THADS yêu cầu THADS Q3 có văn bản yêu cầu TAND tối cao giải thích là điều không thể”.

Được biết, để giải quyết dứt điểm vụ việc, Chi cục THADS Q3 vừa qua đã liên tiếp gởi hai công văn xin ý kiến chỉ đạo việc thi hành án của Tổng cục THADS với nội dung: “Chi cục THADS Q3 tiếp tục thực hiện quyết định cưỡng chế giao quyền sử dụng đất buộc ông Hà giao cho bà Thủy quyền sử dụng đất được hay chưa?”. Có thể nói, đây là một trong những số ít công văn thể hiện sự kiên quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được thi hành án trước sự im lặng khó hiểu của Tổng cục THADS, nhưng đến nay cơ quan này vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo từ cấp trên.

Thiết nghĩ, trong việc này lãnh đạo Bộ Tư pháp cũng nên có ý kiến chỉ đạo nhằm sớm giải quyết dứt điểm vụ việc.

QUANG HÀ

(Theo báo công an TP.HCM)

Không có nhận xét nào :